Thứ Sáu, 12 tháng 4, 2013

Chứng đau ngực không do tim




Khi có biểu hiện đau ngực, nhiều người nghĩ ngay đến nguyên nhân do tim nhưng thực tế cho thấy điều này chưa hoàn toàn đúng vì có nhiều chứng đau ở lồng ngực cần phân biệt trong chẩn đoán như đau thần kinh liên sườn, hội chứng cơ bậc thang...

Đau ngực do dây thần kinh liên sườn

Có hai loại đau dây thần kinh liên sườn là nguyên phát và thứ phát. Khi bị đau nguyên phát, người bệnh có cảm giác đau liên tục một bên lưng, dần dần lan theo hướng chéo xuống dưới và ra trước tùy theo khu trú ở đoạn cột sống lưng trên hay dưới. Điểm đau rất rõ khi ấn vào những điểm lộ ra của những sợi thần kinh liên sườn, cạnh cột sống, đường giữa nách. Đối với đau thứ phát, bệnh nhân thường bị đau do bệnh lý đĩa đệm cột sống ngực, lao cột sống do tổn thương phổi - màng phổi, hay đau quặn gan, cần được chẩn đoán phân biệt.

Nhiều trường hợp đau do đĩa đệm của một đoạn cột sống, phần lớn là ở đoạn trên cột sống ngực thì bệnh nhân có cảm giác đau ở phía trong sâu mơ hồ, không có điểm đau rõ rệt khi ấn trên da. Khu vực đau thường gặp nhất là vùng liên bả vai, cạnh cột sống và vùng ngực trước tim dễ nhầm với cơn đau thắt ngực đe dọa nhồi máu cơ tim. Tỷ lệ bệnh lý đĩa đệm đoạn cột sống ngực chỉ chiếm 1,96% các chứng bệnh đĩa đệm cột sống toàn bộ.

Về điều trị: Cần tìm được nguyên nhân gây đau dây thần kinh liên sườn bằng các biện pháp cận lâm sàng (xét nghiệm, Xquang, chụp cắt lớp vi tính...). Sau đó người bệnh sẽ được bác sĩ điều trị theo nguyên nhân đã được xác định và xử trí theo hướng của viêm rễ thần kinh.

Đau ngực do hội chứng cơ bậc thang


Hội chứng cơ bậc thang đã được H.naffiger mô tả đầu tiên và Leriche tiếp tục nghiên cứu, còn được gọi là hội chứng ngách sườn - đòn, sau này còn gọi là hội chứng sườn cổ.

Trong khoang hẹp ở giữa cơ bậc thang trước và cơ bậc thang giữa có dây thần kinh cổ, đám rối thần kinh cánh tay và động mạch dưới đòn chạy qua, còn giữa cơ bậc thang trước và xương sườn có tĩnh mạch dưới đòn lách qua. Do sự liên quan giải phẫu như vậy nên một trong những thành phần kể trên có những biến đổi bất thường sẽ ảnh hưởng tới những bộ phận lân cận. Cũng vì vậy, người ta đã đưa ra định nghĩa: Hội chứng cơ bậc thang là những cơn đau kịch phát với những rối loạn thần kinh và mạch máu do động mạch dưới - đòn và đám rối thần kinh cánh tay bị kích thích hay chèn ép bởi xương sườn cổ, mỏm ngang đốt sống cổ quá dài hoặc những bất thường của một cơ bậc thang (phì đại hay thắt chặt).

Biểu hiện: đau và dị cảm ở vùng mặt trong cánh tay, cẳng tay, bàn tay và ngón 4, ngón 5. Đôi khi đau lan tới cả vùng chẩm và đặc biệt đau dội lên khi xoay đầu về phía tay đau hay sau khi thở vào sâu. Trường hợp đau lan xiên tới xương lồng ngực làm cho chẩn đoán nhầm với cơn đau thắt tim. Rối loạn vận động biểu hiện sức cơ yếu đi, trương lực cơ giảm dẫn đến teo cơ ở tay và mô út, nhưng đặc biệt là căng các cơ ở cổ, nhất là cơ bậc thang trước. Khi có rối loạn mạch máu, tay trở nên tê, tím tái, phù nề, lạnh chi. Trường hợp nặng hơn còn xuất hiện triệu chứng giảm nhẹ hoặc mất mạch quay.

Chẩn đoán dựa vào lâm sàng đặc trưng như đã nói trên và dấu hiệu Adson (mạch quay biến đổi hay mất khi ngồi, hai tay đặt trên đầu gối, thở thật sâu, đồng thời nâng cằm cao lên và cho quay đầu về phía bên tay đau) với kết quả chụp Xquang.

Đau ngực do dây thần kinh liên sườn: cần phân biệt đau nguyên phát và đau thứ phát, từ đó các bác sĩ sẽ điều trị theo nguyên nhân đã được xác định.

Đau ngực do hội chứng cơ bậc thang hay còn gọi là hội chứng sườn cổ sẽ gây những cơn đau kịch phát.

Hội chứng cơ bậc thang cần chẩn đoán phân biệt với:

- Hội chứng cơ ngực bé: Khi dạng cánh tay, cơ ngực bé đè ép động- tĩnh mạch dưới đòn và đám rối thần kinh cánh tay vào mỏm quạ của xương bả vai.

- Hội chứng sườn - đòn thường xảy ra ở những người làm việc nặng nhọc (đội, gánh, vác...), những cơ thể hình dải mảnh và suy ngược do đám rối thần kinh cánh tay bị chèn ép bởi xương đòn và xương sườn, cũng có bảng lâm sàng tương đối giống như của hội chứng cơ bậc thang.

- Đau tay dị cảm: đau và dị cảm ban đêm trong khu vực dây thần kinh trụ và gan bàn tay bị đau khi ấn. Hội chứng này thường gặp ở những người có tuổi do tư thế bất lợi của tay trong giấc ngủ sâu.

- Viêm đám rối thần kinh cánh tay: có nhiều triệu chứng tương tự như hội chứng sườn đùi.

Điều trị hội chứng cơ bậc thang, cũng tùy theo nguyên nhân điều trị theo triệu chứng chủ đạo: sử dụng thuốc giảm đau, chống thoái hóa các dây thần kinh, chống teo cơ, giữ tay ở tư thế chức năng.Điều trị bằng phẫu thuật nhằm mục đích loại trừ chèn ép vào các mạch máu - thần kinh, chỉ định cho những trường hợp đã được điều trị bảo tồn nhưng không đạt kết quả như mong muốn.

PGS. Vũ Quang Bích - Suckhoedoisong 

Đau nhói ngực

Đau nhói ngực




Tôi năm nay 47 tuổi, nặng 58 kg. Hầu như ngày nào tôi cũng bị tình trạng ngực bên phải nhói đau. Nghe người ta nói có thể là đau thần kinh liên sườn gì đó, nhưng tôi sợ có liên quan đến bệnh tim mạch. Nhờ bác sĩ tư vấn giúp, xin cám ơn... (thuthuy@...)

Viêm thần kinh liên sườn là một trong những nguyên nhân rất hay gặp của triệu chứng đau ngực. Tuy nhiên để chẩn đoán chắc chắn, thường bác sĩ phải cho bệnh nhân chụp phim X-quang phổi thẳng và nghiêng để loại trừ đau ngực do u phổi, do viêm dính màng phổi, do u xương sườn, hay u do di căn từ nơi khác đến.

Thần kinh liên sườn có thể bị viêm do chấn thương, do nhiễm trùng và thường nhất là do siêu vi trùng. Để điều trị bệnh này bệnh nhân và cả thầy thuốc phải hết sức kiên trì vì bệnh hay tái phát, tuy không gây chết người nhưng bệnh nhân rất khó chịu, nhất là khi hít thở sâu hay khi ho hoặc hắt hơi. Thường bệnh này điều trị nội khoa, có thể kèm theo vật lý trị liệu


Triệu chứng ngất

Định nghĩa

  • Mất trí giác thoáng qua đột ngột.

Nguyên nhân

  • Do tim:
- Cơ học:
+ Van tim: hẹp van động mạch chủ, hẹp van hai lá, hẹp van động mạch phổi, huyết khối van nhân tạo.
+ Bơm: NMCT, chèn ép tim cấp, bệnh cơ tim, u nhầy.
+ Mạch máu: bóc tách động mạch chủ, thuyên tắc phổi, tăng áp phổi.
- Rối loạn nhịp tim:
+ Rối loạn nhịp tim chậm: hội chứng suy nút xoang, blốc nhĩ thất cao, rối loạn chức năng máy tạo nhịp vĩnh viễn.
+ Rối loạn nhịp tim nhanh: nhịp nhanh trên thất (hiếm khi gây ngất trừ khi có bệnh lý về cấu trúc tim). Nhịp nhanh thất.
  • Do thần kinh tim: ­ trương lực cảm ®­ co bóp thất T ® thúc đẩy thụ thể cơ học trong thất T làm ­ trương lực dây X (phản xạ Bezold-Jarisch) ®¯ tần số tim và huyết áp.
  • Tụt HA tư thế: ¯ thể tích máu, bệnh lý thần kinh tự chủ.
  • Do thuốc: thuốc dãn mạch, thuốc lợi tiểu, thuốc làm chậm nhịp và ¯ co bóp tim.
  • Do thần kinh: cơn động kinh (về mặt từ vựng thì không là ngất). Cơn thoáng thiếu máu não / TBMMN, suy động mạch nền cột sống, tình trạng ăn cắp máu do động mạch dưới đòn, migraine.
  • Linh tinh: (về mặt từ vựng thì không là ngất), ¯ đường huyết, ¯ oxy máu, thiếu máu, nguyên nhân tâm thần kinh.
Khảo sát (nguyên nhân không thể xác định được lên đến 40% các trường hợp).
  • Bệnh sử: (từ bệnh nhân và nhân chứng nếu có thể)
- Hoạt động và tư thế trước khi xảy ra biến cố.
- Yếu tố thúc đẩy: gắng sức (hẹp van động mạch chủ, bệnh cơ tim phì đại, tăng áp phổi). Thay đổi tư thế (tụt HA tư thế), yếu tố gây stress như rối loạn cảm xúc, mệt, đứng lâu, nhiệt hoặc tiểu tiện / đại tiện (thần kinh tim).
- Tiền triệu: (vd: vã mồ hôi, buồn nôn, choá mắt): do tim thường <> 10 giây.
- Các triệu chứng kèm theo: đau ngực, đánh trống ngực, triệu chứng về thần kinh hoặc tim trước đó.
  • Tiền sử nội khoa trước đó: ngất trước đó, bện lý thần kinh hoặc tim trước đó.
  • Thuốc men:
- Thuốc dãn mạch (vd: nitrate, thuốc ức chế kênh calci, thuốc ƯCMC dạng Angiotensin, ức chế µ, hydralazine) và lợi tiểu.
- Thuốc làm chậm nhịp tim và giảm co bóp, cơ tim (vd: thuốc chẹn bêta và ức chế kênh calci).
- ­ QT: thuốc chống rối loạn nhóm IA hoặc nhóm III, Phenothiazines, antihistamines, erythromycin, azoles, thuốc chống trầm cảm ba vòng.
- Thuốc hưng thần: chống tâm thần, chống trầm cảm ba vòng, barbiturates, benzodia zepines, EtOH.
  • Tiền sử gia đình: bệnh cơ tim, đột tử.
  • Khám thực thể:
- Dấu hiệu sinh tồn bao gồm sự thay đổi theo tư thế ( nằm ngửa ® đứng làm ¯ > 10-20 mmHg huyết áp tâm thu hoặc làm ­ tần số tim > 10-20 lần / phút).
- Khám tim: áp lực tĩnh mạch cảnh, các âm thổi, phì đại thất T (T4, dày thất T), suy tim (rales, mõm tim lệch, T3).
- Khám mạch máu: mạch không đối xứng, âm thổi ở động mạch cảnh.
- Xét nghiệm tim máu ẩn trong phân.
- Khám thần kinh: dấu TK khu trú, dấu chứng của vết cắn ở dưới lưỡi.
  • ECG (bất thường ~ 50%, xác định được nguyên nhân ngất >> 10%). Nhịp chậm xoang, khoảng ngừng xoang, blốc nhĩ thất, blốc nhánh, nhịp nhanh thất, nhịp nhanh trên thất). Những thay đổi về thiếu máu cục bộ (mới hay cũ). Phì đại thất hoặc nhĩ. Dấu chứng của rối loạn nhịp (ngoại tâm thu, QT kéo dài, sự kích thích sớm).
ECG liên tục (Holter) phát hiện được: (AmJ Med 90:91, 1991).
- Rối loạn nhịp + triệu chứng: 4%.
- Rối loạn nhịp có ý nghĩa nhưng không triệu chứng, cần can thiệp: 13%.
- Có triệu chứng nhưng không có bằng chứng rối loạn nhịp: 17% Loop recorder (ghi được nhịp của biến cố và lưu giữ lại.
  • Siêu âm tim: nếu nghi ngờ bệnh lý cấu trúc tim dựa trên khám tim hoặc ECG.
  • Nghiệm pháp gắng sức: để loại trừ rối loạn nhịp do thiếu máu cơ tim.
  • Thông tim: xem xét đến nếu xét nghiệm không xâm lấn nghi ngờ thiếu máu cơ tim hoặc bệnh van tim.
  • Khảo sát về điện sinh lý: xem xét đến nếu rối loạn nhịp có ý nghĩa trên ECG, ECG holter hoặc Loop recorder nếu có bệnh lý cấu trúc tim. 50% có bất thường (nhanh thất hoặc nhanh trên thất, bất thường dẫn truyền) nhưng có ý nghĩa không rõ.
  • Thử nghiệm nghiêng bàn (đối với ngất do phản xạ dây X). Nghiệm pháp (+) trong 50% bệnh nhân bị ngất tái phát mà không giải thích được, độ chuyên biệt <= 90%, khả năng lập lại kết quả <= 80%.
  • Xét nghiệm về thần kinh (XN về mạch máu não, CT, MRI, EEG): chỉ nếu tiền sử và bệnh sử nghi ngờ nguyên nhân về thần kinh.
  • Xếp loại nguy cơ:
- Nguy cơ cao: tuổi > 60, có bệnh tim, có dấu chỉ điểm của ngất do tim (vd: không có tiền triệu, không có yếu tố gây chấn thương) hoặc ECG bất thường ® nhập viện, có sự theo dõi nhịp tim từ xa.
- Nguy cơ thấp: không có các yếu tố ở trên ® có thể không cần nhập viện.



Điều trị

  • Ngất do tim hoặc ngất do thần kinh: điều trị rối loạn căn bản.
  • Ngất do thay đổi tư thế: bội phụ thể tích, nếu mãn tính ® chuyển chậm chậm từ tư thế nằm sang đứng, mang vớ băng ép, midodrine, fludrocortisone.
  • Ngất do phản xạ dây X: thuốc ức chế bêta?. Disopyramide, midodrine, fludrocortisone, anticholinergics, theophylline, máy tạo nhịp. (JACC 33: 16, 1999).

Tiên lượng

(N Engl J Med 309: 197, 1983 and Ann Emerg Med 29: 459, 1997)
  • Ngất do tim: tỉ lệ đột tử là 20-40% / một năm.
  • Ngất không do tim hoặc không giải thích được vớ ECG bình thường, không có bệnh sử nhanh thất, không suy tim, tuổi

Thứ Ba, 2 tháng 4, 2013

Các triệu chứng của bệnh tim ở phụ nữ trung niên

 bệnh tim ở phụ nữ trung niên
Phụ nữ đến tuổi trung niên thường có nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch do tác dụng bảo vệ của estrogen giảm dần.

Khi mắc bệnh, hơn một nửa số phụ nữ không cảm thấy đau ngực hoặc tức ngực bởi khác với nam giới, phụ nữ được cung cấp máu từ những mạch dẫn nhỏ nên hầu như không cảm thấy triệu chứng bất thường nào.

Điều này dẫn đến tình trạng số phụ nữ tử vong do các bệnh tim mạch nhiều hơn nam giới. Vậy phụ nữ phải làm gì để có thể phát hiện kịp thời triệu chứng của bệnh? Thời gian gần đây, Phân hội tim mạch Los Angeles thuộc Hiệp hội tim mạch Mỹ đã chỉ ra những triệu chứng của phụ nữ khi mắc các bệnh tim mạch.

Liên tục mệt mỏi: Cảm giác mệt mỏi thường xuất hiện trong giai đoạn đầu của bệnh, thậm chí toàn bộ sức lực dần bị mất đi. Cảm giác mệt mỏi này không hạn chế tại một bộ phận nào đó trên cơ thế mà đó là cảm giác mệt mỏi toàn thân.

Khó thở: Có một số bệnh nhân ngoài những triệu chứng thường gặp của người mắc bệnh tim, họ còn cảm thấy khó thở. Những lúc như vậy nên ngồi lại một vài phút, hoạt động hô hấp sẽ trở lại bình thường. Tuy nhiên, khi người bệnh đứng lên đi tiếp, tình trạng này trở nên nghiêm trọng hơn. Điều này thường bị chúng ta coi nhẹ, đặc biệt là những người có tiền sử về đường hô hấp.

Khó tiêu, buồn nôn: Khác với bệnh dạ dày, bệnh tim gây ra chứng đau dạ dày nhưng người bệnh thường không cảm thấy trướng bụng. Họ thường chỉ đau âm ỉ và buồn nôn.

Cánh tay bị đau
(đặc biệt là cánh tay trái): Cánh tay trái và bả vai trái thường chịu ảnh hưởng từ bệnh tim. Mặc dù, chúng ta sẽ cảm thấy không quá đau, nhưng việc giơ tay lên cũng cảm thấy khó khăn./.

Thuốc cao huyết áp dùng cho phụ nữ có thai

Tình trạng cao huyết áp ở phụ nữ có thai (PNCT) sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi và gây ra những biến chứng ảnh hưởng đến sức khỏe của người mẹ. Trong trường hợp nghiêm trọng, có thể gây tử vong cả mẹ lẫn con.

Ở PNCT bị cao huyết áp, do đường truyền máu nuôi kém nên thai nhi chậm phát triển, nhẹ cân, suy dinh dưỡng và có thể sinh non. 

Trong quá trình khám thai định kỳ, thầy thuốc sẽ kiểm tra huyết áp. Khi huyết áp của PNCT đo được vượt ngưỡng 140/90mmHg (huyết áp tâm thu/ huyết áp tâm trương) là cao huyết áp. 



Phụ nữ có thai phải thận trọng khi dùng thuốc 

Phụ nữ có thai phải thận trọng khi dùng thuốc 
Các nhóm cao huyết áp 
Tình trạng cao huyết áp ở PNCT có thể chia làm ba nhóm: 

- Cao huyết áp mãn tính: tình trạng cao huyết áp đã xảy ra từ trước khi có thai, nhưng đôi khi chỉ được biết đến khi đi khám thai định kỳ. 

- Tiền sản giật: tình trạng nguy hiểm có thể đe dọa tính mạng cả mẹ lẫn con, với các biểu hiện: cao huyết áp, phù, protein niệu. Tiền sản giật thường xảy ra ở sau tuần thứ 20 của thai kỳ. Nếu không được điều trị kịp thời, tiền sản giật sẽ chuyển sang cơn sản giật: thai phụ sẽ chuyển sang hôn mê do nhiễm độc huyết tiến triển, gây ra những biến chứng ở não (đau đầu, co giật), ở mắt (mờ mắt), ở gan (đau vùng bụng)… và có thể dẫn đến tử vong. 

- Cao huyết áp đơn thuần: cũng thường xảy ra sau tuần thứ 20 của thai kỳ nhưng không có các biểu hiện của tiền sản giật.Tình trạng này thường không cần phải điều trị: huyết áp của PNCT sẽ trở về bình thường sau khi sinh con. 

Thuốc cao huyết áp Loại được sử dụng: 


Các thuốc cao huyết áp sau đây là những thuốc được ưu tiên chọn lựa hàng đầu trong điều trị cao huyết áp cho PNCT, do những thuốc này có tính an toàn, không gây những tác hại cho thai nhi và thai phụ. 

- Methyldopa (aldomet): thuốc cao huyết áp tác động trên hệ thần kinh trung ương; được chỉ định điều trị cao huyết áp và cao huyết áp ở PNCT. Thuốc thường ở dạng viên với hàm lượng 250mg hoặc 500mg. 

- Labetalol (trandate): thuốc cao huyết áp chẹn đồng thời ức chế thụ thể ở mạch ngoại vi, làm giảm sức cản ngoại vi gây hạ huyết áp.Thuốc dùng an toàn cho PNCT. Thuốc có thể trình bày ở dạng viên thường với hàm lượng 100mg hoặc 200mg hay ở dạng thuốc tiêm. 

- Hydralazin (Apresolin): thuốc giãn mạch và giảm sức cản ngoại vi nên có tác dụng hạ huyết áp. Thường dùng dưới dạng thuốc tiêm qua đường tĩnh mạch trong điều trị cao huyết áp cấp ở PNCT. 

Loại không được sử dụng: 


Các thuốc cao huyết áp thuộc các nhóm sau đây không được sử dụng trong điều trị cao huyết áp cho PNCT, do các thuốc này khi vào cơ thể sẽ vượt qua nhau thai gây tác hại cho thai nhi như: hạ huyết áp, vô niệu, suy thận… và nghiêm trọng hơn là gây ra dị dạng, quái thai, thậm chí tử vong thai nhi. 

- Nhóm thuốc ức chế men chuyển (ACE) như: captopril, enalapril… 

- Nhóm thuốc đối kháng canxi như: nifedipin, amlodipin… 

- Nhóm thuốc chẹn như: atenolol, propanolol… 

- Nhóm thuốc đối kháng thụ thể angiotensin như: losartan, ibersartan… 

- Nhóm thuốc lợi tiểu như: furosemid, hydrochlorothiazid… 

DS. MAI XUÂN DŨNG 

Bệnh cường giáp có thể gây biến chứng nặng ở tim

Cường giáp là bệnh nội tiết khá phổ biến ở Việt Nam, trong đó Basedow là bệnh cường giáp thường gặp nhất. Bệnh có đặc trưng là gầy sút nhiều, tim đập nhanh, run tay, cổ to và một số bệnh nhân (BN) có mắt lồi. Tuy có nhiều triệu chứng nhưng do diễn biến tăng dần nên nhiều trường hợp được chẩn đoán muộn. Nếu không được điều trị kịp thời và dứt điểm, BN cường giáp có thể bị nhiều biến chứng mà phổ biến và nguy hiểm nhất là các biến chứng về tim mạch.
Bệnh cường giáp có thể gây biến chứng nặng ở tim


Các biến chứng tim mạch của bệnh cường giáp

Các rối loạn nhịp tim:

- Tăng hormon giáp làm nhịp tim nhanh thường xuyên kể cả lúc nghỉ, có thể lên tới 110-120 lần/phút. Nhịp tim nhanh được coi là dấu hiệu trung thành nhất của bệnh cường giáp nhưng trong phần lớn các trường hợp, nhịp tim vẫn đều (gọi là nhịp nhanh xoang). Có khoảng 10-15% BN cường giáp có biến chứng loạn nhịp, thường gặp nhất là rung nhĩ (tâm nhĩ không đập theo nhịp bình thường nữa mà đập rất nhanh và không đều, từ 300-600 lần/phút). Khi đó các BN thường có biểu hiện hồi hộp, đánh trống ngực nhiều, một số bị đau ngực, thậm chí có BN bị ngất. Nghe tim thấy tâm thất đập không đều nhưng ở tần số rất nhanh, có thể lên tới 170-180 lần/phút.

- Khi bị loạn nhịp, tim bóp lúc mạnh lúc yếu, hậu quả là máu trong buồng tim không được tống hết ra ngoài sẽ dần tạo thành cục máu đông. Cục máu đông này rất dễ bị trôi lên não gây ra tai biến mạch não. Theo nhiều nghiên cứu, các BN bị rung nhĩ kéo dài có nguy cơ bị tai biến mạch não cao gấp 5-7 lần so với người bình thường và cứ 6 BN bị tai biến mạch não thì có 1 BN có nguyên nhân là do loạn nhịp tim.

Tăng huyết áp: Các BN cường giáp thường có tăng huyết áp, chủ yếu là huyết áp tối đa còn huyết áp tối thiểu vẫn bình thường, khoảng cách huyết áp tăng lên. Tuy mức tăng huyết áp không nhiều và hiếm khi cần phải điều trị nhưng nếu kéo dài thì nó cũng có thể ảnh hưởng đến hoạt động của tim, góp phần gây suy tim.

Hội chứng suy tim: Tăng hormon giáp làm tim co bóp mạnh và nhanh, hoạt động này cần các tế bào cơ tim khỏe mạnh và được nuôi dưỡng cung cấp đủ oxy. Nếu tình trạng này kéo dài hoặc khi dự trữ cơ tim không đảm bảo cho tim đáp ứng được nhu cầu tăng cung lượng tim xảy ra trong cường giáp thì sẽ dẫn đến suy tim, lúc đầu là suy tim trái nhưng về sau thường là suy tim toàn bộ. Suy tim do cường giáp có đặc điểm khác biệt với phần lớn các trường hợp suy tim khác là lượng máu do tim bơm ra lại cao hơn bình thường (gọi là suy tim tăng cung lượng), tuy nhiên sự khác biệt này chỉ ở giai đoạn đầu, còn nếu kéo dài thì cuối cùng cung lượng tim cũng giảm và biểu hiện lâm sàng của suy tim giai đoạn muộn trong cường giáp không khác với suy tim do các nguyên nhân khác, đó là khó thở, phù, gan to, đái ít, tím môi...

Hội chứng suy vành: Tim đập nhanh và mạnh kéo dài sẽ làm các tế bào cơ tim phì đại, nhất là thất trái, khi đó nhu cầu oxy của cơ tim sẽ tăng lên. Tuy nhiên do máu đi vào mạch vành (là các mạch máu nuôi dưỡng cơ tim) trong thời kỳ tâm trương nên khi nhịp tim nhanh do cường giáp sẽ làm rút ngắn thời gian tâm trương, máu vào mạch vành bị giảm đi, hậu quả là BN bị thiếu máu cơ tim. Biểu hiện của thiếu máu cơ tim là đau ngực sau xương ức từ các mức độ nhẹ đến đau dữ dội, đau cả khi nghỉ ngơi cũng như khi gắng sức. Điều đặc biệt là các cơn đau ngực ở BN cường giáp rất hiếm khi chuyển thành nhồi máu cơ tim và khi điều trị khỏi cường giáp thì cũng hết các cơn đau ngực.

Mối liên quan giữa các biến chứng tim mạch do cường giáp

- Tuy đều là hậu quả của cường giáp nhưng các biến chứng tim mạch này lại có liên quan mật thiết với nhau và thúc đẩy làm bệnh nặng thêm.

- Điển hình nhất là suy vành có thể làm xuất hiện hoặc thúc đẩy các biến chứng rung nhĩ và suy tim nặng hơn, nhưng như đã phân tích ở phần trên thì nhịp nhanh tăng nhiều do rung nhĩ lại là nguyên nhân thuận lợi gây suy vành. Có rất nhiều nghiên cứu đã chứng minh tăng huyết áp và suy tim là các yếu tố nguy cơ gây rung nhĩ và hạn chế kết quả điều trị rung nhĩ ở các BN cường giáp.

- Một liên quan khác cũng cần quan tâm là các BN rung nhĩ mà bị suy tim thì dễ hình thành huyết khối trong buồng tâm nhĩ hơn do máu lưu thông chậm hơn. Hậu quả là nguy cơ bị tai biến mạch não cao hơn ở các BN cường giáp có cả rung nhĩ và suy tim.
Điều trị các biến chứng tim mạch ở BN cường giáp

- Phương pháp điều trị cần được áp dụng đầu tiên do có hiệu quả cao nhất chính là điều trị khỏi cường giáp. Ví dụ như các BN cường giáp có biến chứng rung nhĩ thì trong vòng 4 tháng sau khi hết cường giáp, có tới 2/3 số BN này tự trở về nhịp đều bình thường. Khi hết cường giáp, nhịp tim giảm xuống, tim co bóp ít và nhẹ hơn sẽ góp phần làm giảm huyết áp, giảm đau ngực do thiếu máu cơ tim và giảm cả suy tim. Vì thế cần điều trị đạt bình giáp sớm và duy trì bình giáp bền vững bằng 1 trong 3 phương pháp là dùng thuốc kháng giáp trạng tổng hợp, mổ cắt tuyến giáp hoặc điều trị iode phóng xạ (I131). Tuy nhiên mức độ làm giảm các biến chứng nhiều hay ít tùy thuộc vào thời gian BN bị cường giáp và các biến chứng tim mạch này nặng hay nhẹ. Các BN được điều trị cường giáp bằng thuốc cần nhớ là sau khi đã đạt bình giáp, họ vẫn cần điều trị duy trì trong thời gian dài, có thể tới 18 tháng mới khỏi được bệnh.

- Ngoài điều trị cường giáp thì tùy theo loại biến chứng mà có phương pháp điều trị hỗ trợ khác nhau. Các thuốc thường dùng và có tác dụng tốt là thuốc chẹn beta giao cảm (như propranolol, metoprolol, atenolol..) làm giảm huyết áp, giảm nhịp tim (trong rung nhĩ) và gián tiếp làm giảm đau ngực. Thuốc điều trị suy tim là digoxin và lợi tiểu... Ngoài ra có thể sử dụng các thuốc điều trị tăng huyết áp, suy tim, suy vành như thông thường. Vai trò của các thuốc điều trị chuyên biệt này là rất lớn trong giai đoạn đầu khi BN còn cường giáp nặng, các phương pháp điều trị cường giáp chưa có tác dụng.

- Điều lưu ý quan trọng là các biến chứng tim mạch của bệnh cường giáp thường đáp ứng tốt với điều trị, tuy nhiên nếu để cường giáp kéo dài hoặc cường giáp tái phát thì biến chứng sẽ nặng lên nhiều, ít hoặc không đáp ứng với điều trị, khi đó nguy cơ bị suy tim nặng hoặc tử vong sẽ tăng cao. Tuy nhiên trong thực tế có khá nhiều người sau một thời gian điều trị thấy người khỏe, các triệu chứng tim mạch đỡ nhiều hoặc khi được kết luận là đã đạt bình giáp thì bắt đầu điều trị không đều hoặc bỏ hẳn điều trị, cho đến khi bệnh tái phát hoặc nặng lên mới điều trị lại thì đã muộn. Vì thế các BN cần được điều trị và theo dõi thường xuyên bởi các bác sĩ nội tiết và có thể cả bác sĩ tim mạch để đảm bảo được điều trị triệt để.

ThS. Nguyễn Quang Bảy - SkĐS


 

Bệnh tim có uống được Levothyrox?


Tôi bị bướu giáp đơn thuần, đã làm FNA kết quả là phình giáp dạng keo; chỉ số T3,T4,TSH bình thường. Bác sĩ cho uống Levothyrox 50, 1 viên/sáng. Nhưng tôi bị bệnh tim nên khi uống thuốc này rất mệt. Tôi ngưng thuốc và chuyển sang ăn rong biển khoảng một năm.
Gần đây tôi đi siêu âm thì bướu giáp to ra. Có bác sĩ khuyên tôi dùng 1/2 viên Levothyrox 50/sáng. Nếu uống thế này có ổn cho bệnh tim? Làm thế nào để bướu không phát triển, làm việc trí óc nhiều làm bướu lớn? Khi nào phải phẫu thuật? Nếu cắt bướu tôi có phải dùng Levothyrox suốt đời?

 Bệnh tim có uống được Levothyrox?

Bướu giáp đơn còn gọi là giáp đơn không độc (nontoxic simple goiter), là tình trạng phì đại tuyến giáp lành tính. Đây là phản ứng thích nghi của tuyến giáp để sinh tổng hợp đủ lượng hormon trong các điều kiện:

- Chế độ ăn uống thiếu chất iôt (còn gọi là bướu giáp địa phương).

- Chế độ ăn có chứa nhiều chất sinh bướu như chất thiocyanate (trong su su, cải bẹ...); chất cyanur (trong sắn...); chất phthalate, hydrocarbon đa vòng (trong nước thải công nghiệp).

- Một số bệnh lý rối loạn tổng hợp hormon tuyến giáp.

Trong y học để chẩn đoán bệnh lý tuyến giáp cần các thăm dò cơ bản:

- Siêu âm để đo kích thước tuyến giáp.

- Đo nồng độ hormon tuyến giáp (T3, T4, fT3, fT4) và tuyến yên (TSH).

- Sinh thiết tổ chức mô tế bào tuyến giáp bằng phương pháp FNA (chọc hút bằng kim nhỏ).

Với bướu giáp đơn hay bướu giáp địa phương phải cần đo bilan iôt (lượng xuất nhập iôt) của người bệnh qua lượng iôt thải ra trong nước tiểu hằng ngày.

Uống Levothyrox là một liệu pháp hormon thay thế (HRT) để bù lại lượng hormon bị thiếu hụt, cụ thể trong bệnh lý tuyến giáp là tình trạng suy giáp (nhược giáp). Bệnh của bạn là bướu giáp đơn loại bình giáp không cần dùng thêm Levothyrox.

Đa số bướu giáp đơn là do thiếu iôt hay do thừa chất sinh bướu. Do đó việc điều trị hay cả ngăn ngừa bệnh chính là kiểm soát hai khâu này. Ăn muối pha iôt, ăn thực phẩm từ biển (như rong biển bạn đang dùng) đúng là cách chữa và ngăn ngừa bướu giáp đơn.

Hiện chưa có tài liệu nào, công trình nghiên cứu nào cho thấy làm việc trí óc ảnh hưởng lên sự phát triển của bướu giáp đơn cả.

Phẫu thuật cắt giảm tuyến giáp thường được chỉ định trong các bệnh tuyến giáp sau: ung thư tuyến giáp, cường giáp độc Basedow, bướu giáp nhân... Còn trong bướu giáp đơn thường bệnh nhân được phẫu thuật khi bướu quá lớn chèn ép, hoặc vì lý do thẩm mỹ hơn là để chữa bệnh.

Để biết kích cỡ tuyến giáp của mình, bạn nên nhờ bác sĩ đo lại cụ thể bằng siêu âm. Thể tích mỗi thùy tuyến giáp được tính theo công thức R. Guterkunst (đã được WHO chọn).

V= a x b x c x∏//6. (a,b,c là chiều dài, rộng và sâu của thùy giáp).

Theo công trình của chúng tôi, người VN có V giáp= 16 ± 2 cm3, người có thể tích tuyến giáp quá 20cm3 là có bướu giáp (tuyến giáp lớn).

Trong bướu giáp đơn, phẫu thuật là cắt giảm tuyến giáp nên không phải uống Levothyrox suốt đời như cắt bỏ tuyến giáp trong ung thư.

TS.BS TRẦN BÁ THOẠI - TTO